TIN TỨC

ẢNH HƯỞNG & TÁC ĐỘNG DỊCH BỆNH COVID-19 ĐẾN NGÀNH LOGISTICS VIỆT NAM & ASEAN

COVID-19 đã tác động rộng và rõ nét hơn đến toàn thể các nền kinh tế  ASEAN và các chuỗi cung ứng trong khu vực, dù với các mức độ khác nhau.

COVID-19 đang làm gián đoạn du lịch, vận tải, chuỗi cung ứng hàng hóa và thị trườnglao động. Tâm lý lo lắng của cộng đồng người tiêu dùng, doanh nghiệp, nhà đầu tư… đang gia tăng ở hầu hết các nước thành viên ASEAN.Tất cả điều này ảnh hưởng đến thương mại, đầu tư và xuất khẩu, từ đó ảnh hưởng đến tăng trưởng. Du lịch và dịch vụ liên quan du lịch (lưu trú, ăn uống…), cũng như các ngành công nghiệp liên quan khác (thủ công mỹ nghệ…), đặc biệt là các hãng hàng không và khách sạn bị ảnh hưởng đầu tiên. Tình hình đang trở nên khó khăn hơn khi nhiều quốc gia thành viên và các đối tác kinh tế lớn của ASEAN tiến hành phong tỏa đất nước hoặc một số tỉnh thành.

Sự gián đoạn nguồn cungtrong 2 tháng đầu năm 2020, chủ yếu từ phía Trung Quốc ảnh hưởng trực tiếp đến chuỗi giá trị và làm gián đoạn sản xuất tại ASEAN. Vì Trung Quốc là trung tâm khu vực và chiếm 12% thương mại toàn cầu về các bộ phận và linh kiện, chi phí cho sự gián đoạn trong ngắn hạn sẽ cao. Sang tháng 3/2020, đến lượt các đối tác mua hàng của ASEAN là Hoa Kỳ và châu Âu bị ảnh hưởng bởi Covid-19, khiến đầu ra xuất khẩu gặp khó khăn.

Các tác động tiêu cực của việc sắp xếp kiểm dịch đối với nguồn cung lao động cũng tăng lên tùy theo thời gian và lĩnh vực. Sản xuất đã bị ảnh hưởng nặng nề trong khi ngành công nghiệp dịch vụ như viễn thông và các công cụ hỗ trợ công nghệ khác không bị suy giảm năng suất.

Ngoài ra, các hình thức cách ly xã hội đang được áp dụng ngày càng phổ biến hơn ở các nước ASEAN (Malaysia, Indonesia, Việt Nam, Thái Lan..) dẫn đến sự sụt giảm mạnh về nhu cầu trong nước đối với những hàng hóa và dịch vụ không thuộc nhóm thiết yếu. Hiệu ứng lan truyền này có thể kéo dài hơn.

Chi phí cao nhất có thể đến từ các tài sản vô hình. Tác động của tâm lý tiêu cực về tăng trưởng và sự không chắc chắn nóichung - vốn đã ảnh hưởng đến thị trường tài chính nay sẽ càng làm giảm đầu tư, tiêu dùng và tăng trưởng trong dài hạn.

Nguy cơ suy thoái kinh tế trên khắp thế giới là rất cao, mặc dù các biện pháp kích thích tăng trưởng đang bắt đầu được kích hoạt.Tuy nhiên, sản xuất và kinh doanh đình trệ (do giãn cách xã hội chứ không phải do thiếu vốn hay lãi suất cao), sẽ dẫn đến sự gia tăng mạnh về thất nghiệp và nghèo đói.

Thực ra trước khi dịch bệnh bùng phát, đà tăng trưởng của một số nền kinh tế ASEAN đã giảm. Việc tái cấu trúc chuỗi cung ứng khu vực đã bắt đầu, thúc đẩy bởi chi phí nhân công tăng ở Trung Quốc và cuộc chiến thương mại Trung Quốc của Hoa Kỳ. Mặc dù COVID-19 có thể đẩy nhanh hơn nữa tốc độ và mức độ tái cấu trúc, nhưng đây chỉ là một trong những nhân tố tác độ. Chuỗi cung ứng bị gián đoạn còn do nhiều yếu tố khác ngoài COVID-19.

Bất kỳ đánh giá tác động nào cũng phải công nhận rằng sự lây lan của COVID-19 là không thể đoán trước được và các chính phủ cũng phản ứng như vậy. Rất khó để ước tính tác động của một cú sốc không chắc chắn.Điều này nhắc lại sự cần thiết phải mô hình hóa và phân tích các kịch bản về mức độ và thời gian kéo dài của dịch bệnh.Xu hướng hiện tại chỉ ra các rủi ro tăng lên, và sẽ tăng tốc nếu không được kiểm soát nhanh chóng.

Ngành dịch vụ vận tải của ASEAN thay đổi trong thời kỳ dịch Covid-19

Nhu cầu sử dụng các dịch vụ giao hàng dặm cuối gần đây tăng mạnh tại ASEAN bởi ngày càng có nhiều người chọn ở nhà hơn là ra ngoài, một phần là do tâm lý lo sợ dịch bệnh Covid-19, bên cạnh đó, nhiều chính phủ cũng khuyến khích hoặc yêu cầu người dân nên ở yên trong nhà để tránh nguy cơ lây lan dịch bệnh. Đây cũng chính là lý do khiến nhiều công ty cung cấp dịch vụ vận chuyển đang phải “gồng mình” nhằm có thể đáp ứng kịp nhu cầu tăng cao của khách hàng.

Thị trường Đông Nam Á đang có rất nhiều tiềm năng phát triển. Thương mại điện tử chỉ chiếm trung bình khoảng 2% tổng giá trị ngành bán lẻ tại Thái Lan và Indonesia, trong khi con số này tại Trung Quốc là 23% và Nhật Bản là 7%.

Trước khi dịch bệnh Covid-19 bùng phát, thị trường thương mại điện tử của 6 nước có nền kinh tế mạnh nhất khu vực được dự đoán tăng trưởng gấp 4 lần, lên mốc 153 tỷ USD, theo một nghiên cứu có sự tham gia của Google. Tốc độ tăng trưởng thực tế có thể vượt xa mức dự đoán trên, khi ngày càng có nhiều người dân ở nhà hơn.

Nhưng hoạt động giao hàng cũng có thể bị cản trở bởi một loạt các vấn đề khác.Ví dụ tại Ấn Độ, thương mại điện tử đóng góp 5% tổng giá trị ngành bán lẻ. Các nền tảng bán hàng trực tuyến như BigBasket và Grofers đã bắt đầu áp dụng quy định mỗi người chỉ được mua mỗi mặt hàng một sản phẩm từ ngày 21/3/2020 do các đơn vị cung cấp đang gặp khó khăn trong việc đáp ứng đủ nguồn cung.Lượng đơn đặt hàng gửi đến BigBasket đã tăng gấp đôi tại các thành phố lớn trong trung tuần tháng 3/2020, theo thông tin từ một đơn vị truyền thông địa phương.Ấn Độ đã áp lệnh phong tỏa toàn quốc từ ngày 25/3/2020, phần lớn các văn phòng, cửa hàng đều buộc phải đóng cửa. Các cửa hàng thực phẩm và hiệu thuốc vẫn được phép mở cửa đề phục vụ người dân, nhưng các xe tải sử dụng cho mục đích vận chuyển hàng hóa lại bị từ chối cho phép đi qua các trạm kiểm soát, các nhà kho cũng đã yêu cầu phải dừng hoạt động.

Tại các nước ASEAN, hoạt động vận chuyển hàng hóa về cơ bản được duy trì (không nằm trong diện bị cấm), tuy nhiên sự thiếu hụt lao động là một thách thức. Chỉ một người giao hàng bị nghi nhiễm bệnh cũng có thể khiến nhiều người đặt hàng hoảng sợ, và dẫn đến tâm lý đi mua hàng tích trữ cho 1-2 tuần thay vì đặt hàng hàng ngày và nhận giao hàng tại nhà.

Tác động của Covid-19 đến chuỗi giá trị thực phẩm ASEAN

Trước sự gia tăng của các biện pháp cách ly xã hội trên toàn quốc và hạn chế biên giới kéo dài tại các nước ASEAN, các ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống của khu vực gặp những khó khăn nhất định, một số nước thậm chí đang ngày càng lo ngại về an ninh lương thực.

Các hiệp hội ngành hàng khu vực hiện đang kêu gọi các chính phủ đảm bảo việc sản xuất và cung cấp thực phẩm và đồ uống không bị cản trở khi mỗi quốc gia cố gắng ngăn chặn sự bùng phát của COVID-19. Họ cảnh báo rằng nếu các quốc gia áp đặt các hạn chế để đối phó với đại dịch coronavirus mà không có các giải pháp để đảm bảo lưu thông hang fhoas thì sẽ gây ra hiệu ứng domino trong chuỗi cung ứng thực phẩm trong khu vực.

Những nhiệm vụ chính mà các chính phủ cần thực hiện để đảm bảo nguồn cung cấp thực phẩm ổn định là đảm bảo rằng việc sản xuất các sản phẩm thực phẩm và đồ uống, nguyên liệu và các nguyên liệu thô khác, cũng như phân phối của ngành bán lẻ, có thể tiếp tục không bị gián đoạn. Họ cũng cần đảm bảo rằng các hạn chế đi lại, bao gồm kiểm soát quản lý biên giới, không dẫn đến sự gián đoạn của chuỗi cung ứng thực phẩm.

Ở châu Á và đặc biệt là trên toàn ASEAN, các nước đang phát triển nhanh chóng phải đối mặt với những thách thức an ninh lương thực quan trọng. Các biện pháp hiện tại nhằm ngăn chặn COVID-19 tác động trực tiếp và gián tiếp đến chuỗi cung ứng thực phẩm, sản phẩm nông nghiệp, gây thêm căng thẳng cho chuỗi giá trị thực phẩm, lưu ý các nhóm ngành.

Trong thời gian này, các thành phần tham gia chuỗi cung ứng thực phẩm và đồ uống cần phối hợp để đảm bảo không xảy ra tình trạng thiếu thực phẩmtrong khu vực, đặc biệt do hành vi mua hàng hoảng loạn không cần thiếtkhi chính phủ ban hành các chính sách kiểm soát dịch bệnh. Ngoài ra, vẫn có thể xảy ra các rào cản thương mại.

Việc tiếp tục sản xuất và cung cấp thực phẩm với vai trò là hàng hóa và dịch vụ thiết yếu về cơ bản vẫn được thực hiện ở các nước ASEAN. Trên khắp các chuỗi cung ứng toàn cầu, tuy nhiên, việc yêu cầu phần lớn lượng lao động trong ngành này ở nhà sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chuỗi cung ứng thực phẩm.

Ngoài ra, khi nhiều nước trong khu vực ASEAN thắt chặt kiểm soát biên giới và hạn chế sự di chuyển của hàng hóa không thiết yếu, việc phân loại tất cả thực phẩm và đồ uống phải sẽ mất thời gian hơn và dẫn đến việc một số nhóm người tiêu dùng sẽ không được đáp ứng nhu cầu thực sự cần thiết của họ. Ví dụ, bánh kẹo hay thực phẩm chức năng hoặc mĩ phẩm từ thiên nhiên có thể coi là hàng thiết yếu với nhóm người này trong khi chưa hẳn đã thiết yếu với nhóm khác.

Tác động này không chỉ quan trọng để đảm bảo an ninh lương thực, mà còn là động lực chính cho GDP và việc làm trong khu vực. Về GDP, chuỗi giá trị thực phẩm tại ASEANi đóng góp khoảng 500 tỷ USD vào GDP, chiếm khoảng 17% tổng GDP. Tỷ lệ việc làm thậm chí còn cao hơn, chiếm 34% tổng lực lượng lao động.

Bất kỳ hạn chế nào, bao gồm cả lực lượng lao động, sẽ ảnh hưởng đến sự ổn định của sản xuất thực phẩm. Tình hình hiện nay đã trở nên trầm trọng hơn do sự gia tăng nhu cầu thực phẩm trên toàn cầu. Ngay cả các biện pháp nhỏ nhất ảnh hưởng đến sự di chuyển tự do của con người và hàng hóa sẽ làm căng thẳng chuỗi thức thực phẩm toàn cầu.

Hạn chế về sự di chuyển của con người, hàng hóa, dịch vụ và các biện pháp ngăn chặn, như đóng cửa nhà máy do COVID-19 đã làm giảm mạnh sản xuất và nhu cầu nội địa ở Trung Quốc. Trước đại dịch, các chuyên gia dự báo gián đoạn toàn cầu về lưu thông hàng hóa và sự di chuyển của công dân sẽ khiến thị trường logistics truyền thống bị ảnh hưởng nặng nề.

Nguồn tham khảo: http://www.logistics.gov.vn